Sơ đồ hệ thống kiến thức bài Đất Nước – Nguyễn Khoa Điềm (đơn giản – hệ thống – dễ ghi nhớ)
05/01/2017

ĐẤT NƯỚC CÓ TỪ BAO GIỜ ?

Cơ bản Mở rộng
– Bằng giọng tâm tình, dịu ngọt như lời kể truyện cổ tích, Nguyễn Khoa Điềm đã thể hiện những cảm nhận, suy tưởng của mình về cội nguồn đất nước bằng những hình ảnh gần gũi, thân quen, bằng những câu thơ gợi nhớ đến truyền thuyết xa xưa, đến nền văn minh lúa nước sông Hồng, cùng những phong tục tập quán độc đáo có từ lâu đời. Cụm từ ngày xửa ngày xưa chỉ thời gian huyền hồ, hư ảo là nhịp thời gian cổ xưa xa thẳm để mở đầu những câu chuyện cổ. Với Nguyễn Khoa Điềm, Đất Nước có từ rất xa xưa, trong sâu thẳm thời gian, trong kí tức tuổi thơ hồn nhiên trong sáng của mỗi cuộc đời. Câu thơ của Nguyễn Khoa Điềm đã đánh thức trong lòng người đọc những hoài niệm đẹp đẽ của một thời thơ dại. Đó cũng chính là đất nước được cảm nhận trong chiều sâu tâm hồn nhân dân, văn hoá và lịch sử:

 “Đất nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn

Đất nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc

+ Đó là miếng trầu gợi lên từ sự tích vào loại cổ nhất người Việt “Sự tích trầu cau” từ đời vua Hùng dựng nước xa xưa, ngợi ca tình nghĩa vợ chồng, anh em đằm thắm, sắt son đồng thời đánh thức dậy hình ảnh miếng trầu đã trở thành biểu tượng của tình yêu, lòng thủy chung: miếng trầu của cô Tấm, miếng trầu của Xuân Hương.

+ Đó còn là truyền thuyết Thánh Gióng nhổ tre đánh đuổi giặc Ân, trở thành bài ca giữ nước hào hùng của nhân dân đã trở thành lịch sử đất nước:

Lịch sử lâu đời của đất nước được kết tinh trong từng câu chuyện kể, trong miếng trầu bà ăn thường ngày, trong “cây tre đánh giặc” thân quen quanh ta.

            Với cái nhìn độc đáo của Nguyễn Khoa Điềm, đất nước đã nằm sâu trong tiềm thức mỗi chúng ta, mỗi người dân; trong đời sống tâm hồn của nhân dân từ thế hệ này qua thế hệ khác.

 Đất nước còn là phong tục búi tóc thành cuộn sau gáy rất quen thuộc của người phụ nữ Việt Nam từ bao đời nay:

 

+ Đất nước Việt Nam mang vẻ đẹp tâm hồn con người Việt Nam: tình nghĩa đậm đà, thuỷ chung son sắt của cha mẹ “cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn”.

+ Với người Việt Nam vốn gắn bó lâu đời với nền văn minh lúa nước, hạt gạo trở thành gia bảo vô cùng cần thiết cho cuộc sống. Cho nên ngay khi còn là đứa trẻ mới lớn, cảm nhận về vật chất đầu tiên phải là hạt gạo trải qua một quá trình lam lũ, vất vả kết tinh mồ hôi, nước mắt của người lao động một nắng hai sương xay, giã, dần, sàng, phải suốt ngày “bán mặt cho đất bán lưng cho trời”, “dầm mưa dãi nắng” nhân dân ta mới làm ra được hạt ngọc quý giá ấy.

+ Cha ông ta xưa gắn liền với những miền quê thuần phác của nền nông nghiệp thóc gạo với mái lá nhà tranh nên thường coi việc đặt tên cho con cũng chỉ bằng cái tên nôm na, dân dã; có khi lấy từ tên những bộ phận của ngôi nhà tre gỗ của chính mình đang ở “cái kèo, cái cột”… Cách cảm nhận cội nguồn đất nước của Nguyễn Khoa Điềm thật gần gũi, thân quen mà cũng không kém phần thi vị, độc đáo, dễ làm lay động trái tim hàng triệu độc giả.

àTrong đoạn thơ trên, tác giả sử dụng khéo léo các kiểu cấu trúc thơ “Đất nước đã có”, “Đất nước bắt đầu”, “Đất nước lớn lên”, “Đất nước có từ” đã giúp cho ta hình dung được cả quá trình hình thành và phát triển của đất nước trong trường kì lịch sử nằm sâu trong tâm thức của con người Việt Nam qua bao thế hệ.

àTrường từ vựng: ông, bà, cha, me gợi về tình cảm gia đình ruột thịt thân thương. Đó cũng là khởi nguồn cho đất nước. Bởi nói như chú Năm “con sông gia đình cũng chảy về biển, mà biển thì rộng lắm, rộng bằng nước ta” (Những đứa con trong gia đình).

Lịch sử sâu thẳm của đất nước ta được tác giả cắt nghĩa không phải bằng sự nối tiếp của các vương triều hay các sự kiện lịch sử trọng đại như Nguyễn Trãi đã từng viết trong “Bình Ngô Đại Cáo”:

 “Như nước Đại Việt ta từ thuở trước

Vốn xưng nền văn hiến đã lâu

Núi sông bờ cõi đã chia

Phong tục Bắc – Nam cũng khác

Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần gây nền độc lập

Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên hùng cứ một phương”

Ngày xưa, bài thơ Nam quốc sơn hà (Lí Thường Kiệt) phải dùng đến đế cư, thiên thư để thiêng liêng hóa Đất Nước qua hình ảnh vua và sách trời. Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc lại mượn “Một khối xa thư đồ sộ” “Hai vầng nhật nguyệt chói lòa” để trang trọng hóa Đất Nước qua những khái niệm trìu tượng, kì vĩ, cao cả. Thi pháp ước lệ cổ điển có khả năng tạo ra một khoảng cách thiêng để thể hiện niềm ngưỡng vọng vô biên của con người đối với giang sơn Tổ Quốc. Hệ thống ngôn từ mới mẻ của Nguyễn Khoa Điềm lại mang một nỗ lực xóa nhòa khoảng cách để bình dị hóa Đất Nước một cách bất ngờ, để Đất Nước hóa thân vào cổ tích, ca dao, dân ca vào đời sống hàng ngày.

 

 

– “Ta như thuở xưa thần Phù Đổng

Vụt lớn lên đánh đuổi giặc Ân

Sức nhân dân khoẻ như ngựa sắt

Chí căm thù ta rèn thép làm roi

Lửa chiến đấu ta phun vào mặt

Lũ sát nhân cướp nước hại nòi

            (Tố Hữu)

Nguyễn Duy đã viết:

Tre xanh, xanh tự bao giờ

Chuyện ngày xưa đã có bờ tre xanh

Ca dao cổ:

Tóc ngang lưng vừa chừng em búi

Để chi dài bối rối lòng anh”

 

Ý thơ được toát lên từ những câu ca dao đẹp:

Tay bưng đĩa muối chén gừng

Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau

            Hay:

Muối ba năm muối đang còn mặn

Gừng chín tháng gừng hãy còn cay

Đôi ta tình nặng nghĩa đầy

Dù ba vạn sáu ngàn ngày cũng chẳng xa”

 

Hình ảnh thơ của Nguyễn Khoa điềm làm ta gợi nhớ tới câu ca dao mẹ ru thuở nào:

Cày đồng đang buổi ban trưa

Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày

Ai ơi bưng bát cơm đầy

             Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần

 

à  Nếu Nguyễn Đình Thi và Chế Lan Viên đã tự tạo một khoảng cách nhất định để chiêm nghiệm về đất nước thì Nguyễn Khoa Điềm đã nhìn đất nước ở tầm gần. Có lẽ nhờ xác định được một cự li như thế mà tác giả Mặt đường khát vọng đã phát hiện ra một khuôn mặt mới của đất nước mình: dung dị, đời thường, thậm chí có phần lam lũ nhưng cũng không kém phần cao cả. Trong khi Nguyễn Đình thi cảm nhận đất nước ở những đường nét hoành tráng, Chế Lan Viên nhìn tổ quốc qua những trang sử hào hùng thì Nguyễn Khoa Điềm lại lặng lẽ quan sát đất nước ở muôn mặt đời thường và trong quan hệ ruột rà, thân thuộc. Đất nước là những gì bình dị nhất gần gũi và thân quen nhất trong đời sống hằng ngày của mỗi con người Việt Nam chúng ta: câu chuyện cổ tích mẹ kể, miếng trầu bà ăn, những dãy tre làng, bới tóc của mẹ, gừng cay, muối mặn, cái kèo, cái tộc, hạt gạo…

 

ĐẤT NƯỚC LÀ GÌ?

Cơ bản
Tác giả đã khai thác cách cấu tạo từ tiếng Việt  để tách từ Đất Nước thành Đất và Nước rồi lại hợp nhất trong 1 chỉnh thể thống nhất hài hòa. Cứ thế tách ra rồi hợp lại, hợp lại rồi tách ra, Đất nước hiện ra vừa cụ thể, riêng tư, gần gũi vừa lớn lao, cao cả, thiêng liêng:

+ Nếu tách hai ra làm những thành tố ngôn ngữ độc lập thì Đất và Nước chỉ có ý nghĩa là không gian sinh tồn về mặt vật chát của con người cá thể.

+ Nếu hợp thành một danh từ thì ĐN lại có ý nghĩa tinh thần thiêng liêng, chỉ không gian sinh sống của cả một cộng đồng người như anh em một nhà.

– Về không gian địa lí:

+ Đất Nước với Nguyễn Khoa Điềm trước hết chưa phải là núi sông, rừng bể mà là không gian riêng tư, sinh hoạt bình thường của mỗi người:

Đất là nơi anh đến trường

Nước là nơi em tắm

+  không gian của tình yêu đôi lứa, không gian của nỗi nhớ thương:

Đất nước là nơi ta hò hẹn

Đất nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm

àĐoạn thơ được viết bằng tư duy vừa giàu chất trữ tình thơ ca, vừa mang tính huyền thoại vừa thấm đượm một phong vị triết học. Không phải ngẫu nhiên mà Đất tương ứng với Anh, nước tương ứng với em. Một yếu tố thuộc Âm, một yếu tố thuộc Dương. Khi nói riêng về từng người thì Đất nước tách riêng thành 2 chữ. Đất mở ra cho anh chân trời kiến thức, nước gột rửa tâm hồn em trong sáng dịu hiền. Cùng với thời gian lớn lên, đấy nước trở thành nơi anh và em hò hẹn khi đó anh với em hợp lại để thành Ta thì Đất và Nước cũng liền lại với nhau thành Đất Nước. Như vậy tình yêu đôi lứa đã hòa hợp làm một với tình yêu đất nước, đất nước như người bạn sẻ chia những tình cảm nhớ mong của những người đang yêu. Chiếc khăn biểu tượng của nỗi nhớ thương – đã từng làm bao trái tim tuổi trẻ bâng khuâng : khăn thương nhớ ai, khăn rơi xuống đất … một lần nữa lại khiến lòng người xúc động bồi hồi trước tình cảm chân thành của những tâm hồn say đắm yêu đương. Những câu thơ định nghĩa mà cứ rưng rưng những kỉ niệm, hồi hộp những tâm tình. Sự vỡ tách và nhập ghép hai âm tiết đất và nước gợi lên một chiều sâu suy tưởng: Đất Nước là sự thống nhất giữa cái chung và cái riêng, cộng đồng và cá nhân, to lớn và nhỏ bé, hiện thực và huyền thoại

+ Không gian của núi sông rừng bể rộng lớn. Đất nước còn là nơi trở về của những tâm hồn thiết tha với quê hương. Hình ảnh con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc, con cá ngư ông móng nước biển khơi mang âm hưởng dân ca Bình Trị Thiên thấm đẫm lòng yêu quê hương tổ quốc của tác giả. Đất nước mình bình dị quen thuộc nhưng cũng rộng lớn, tráng lệ và kì vĩ vô cùng.

+ Đất nước còn là không gian sinh tồn hết sức đời thường của nhân dân qua bao thế hệ:

Những ai đã khuất

Những ai bây giờ

Yêu nhau và sinh con đẻ cái

Gánh vác phần người đi trước để lại …

– Về thời gian lịch sử:

Đất nước trường tồn trong không gian và thời gian: Thời gian đằng đẵng, không gian mênh mông để mãi mãi là nơi dân mình đoàn tụ là không gian sinh tồn của cộng đồng Việt Nam qua bao thế hệ.

Hình ảnh đất nước hiện lên ở cả 3 chiều thời gian: từ quá khứ đến hiện tại và tương lai.

+  Đó là một đất nước thiêng liêng, hào hùng trong quá khứ (gắn với huyền thoại Lạc Long Quân và Âu Cơ, truyền thuyết về các vua Hùng dựng nước), giản dị, gần gũi trong hiện tại (Trong anh và em hôm nay – Đều có một phần đất nước) và triển vọng sáng tươi trong tương lai (Mai này con ta lớn lên – Con sẽ mang đất nước đi xa)

+ Nhắc lại truyền thuyết Lạc Long Quân và Âu Cơ nhắc đến ngày giỗ tổ, Nguyễn Khoa Điềm muốn nhắc nhở mọi người nhớ về cội nguồn của dân tộc. Dù bôn ba chốn nào, người dân Việt Nam cũng đều hướng về đất tổ, nhớ về dòng giống Rồng Tiên của mình

+Khi nghĩ về hiện tại, nhà thơ khẳng định một chân lí: Đất Nước phải là sự hài hòa, gắn bó giữa anh và em và mọi người, giữa cái riêng và cái chung. Đất nước hóa thân và kết tinh tự nhiên trong cuộc đời mỗi con người, sự sống của mỗi con người không phải chỉ của riêng cá nhân mà còn thuộc về đất nước vì mỗi cuộc đời, mỗi con người đều thừa hưởng những di sản văn hóa tinh thần và vật chất của dân tộc. Ý thơ của Nguyễn Khoa Điềm đã bắt nhịp với ý thơ của Thanh Hải:

Ta làm con chim hót

Ta làm một nhành hoa

Ta nhập vào hòa ca

Một nốt trầm xao xuyến

Như vậy không có gì khó hiểu khi nhà thơ nhìn thấy một phần Đất nước trong mỗi chúng ta hiện tại. Đất nước không tồn tại ở đâu đó xa xôi mà kết tinh, hóa thân ngay trong cuộc sống của mỗi con người.

+ Hướng về tương lai của đất nước, Nguyễn Khoa Điềm viết bằng cảm hứng lãng mạn, Đất Nước trong tương lai sẽ đi xa đến mọi chân trời, sẽ là những ngày tháng mơ mộng đẹp đẽ.

àTuy là đoạn thơ chính luận nhưng những câu thơ trên không giống những lời giáo huấn mà chỉ là lời tự nhủ của cá nhân nhà thơ và lớn hơn là của cả thế hệ lúc bấy giờ về bổn phận đối với Đất Nước. Giọng thơ chân thành, thiết tha nhẹ nhàng như lời thủ thỉ, tâm tình, nhắn nhủ người yêu mà không cao giọng lên gân. Đặt trong hoàn cảnh sáng tác bài thơ đó là những lời thơ có giá trị thức tỉnh kêu gọi đấu tranh, kêu gọi hiến dâng 1 phần cuộc đời mình cho Đất Nước.

 

AI ĐÃ LÀM NÊN ĐẤT NƯỚC (TƯ TƯỞNG ĐẤT NƯỚC CỦA NHÂN DÂN)

Cơ bản Mở rộng
* NHÂN DÂN LÀ NGƯỜI LÀM RA KHÔNG GIAN ĐỊA LÍ DÂN TỘC:

 Tư tưởng đất nước của nhân dân khiến cho những địa danh ngàn đời của Tổ quốc qua cái nhìn sắc sảo đầy khám phá của nhà thơ chính là sự hoá thân của những con người bình dị, vô danh “những con người không ai nhớ mặt đặt tên” nhưng họ đã làm ra đất nước.

 

+ Núi Vọng Phu, hòn Trống Mái là kết tinh tình yêu thuỷ chung của biết bao người vợ chờ chồng trong chiến tranh liên miên, của sự gắn kết muôn đời, bất chấp mọi bão tố của thời gian:

Không hoá thạch kẻ ra đi mà hóa thạch kẻ đợi chờ

Đợi một dáng hình trở lại giữa đơn côi

+ Tác giả không chỉ chiêm ngưỡng những hình ảnh núi Bút, non Nghiên mà còn nhìn ra trong đó phẩm chất, truyền thống hiếu học và khát vọng trí tuệ của dân tộc ta từ bao đời nay. Những núi Bút, non Nghiên phô bày vẻ đẹp mỹ lệ giữa đất trời nước Việt hay là hình tượng những người học trò nghèo đã gửi gắm quyết tâm, ước vọng của mình vào đấy:

 Người học trò nghèo góp cho Đất nước mình núi Bút non Nghiên

+ Nhà thơ đã tìm về cội nguồn để cảm nhận sâu sắc dáng hình đất nước. Những hình ảnh thân quen của non sống đất nước gợi lên quá khứ hào hùng với truyền thống đánh giặc ngoại xâm oanh liệt của nhân dân ta qua truyền thuyết Thánh Gióng nhổ tre đánh đuổi giặc Ân:

 Ta như thuở xưa thần Phù Đổng

Vụt lớn lên đánh đuổi giặc Ân

Sức nhân dân khoẻ như ngựa sắt

Chí căm thù ta rèn thép thành roi

Lửa chiến đấu ta phun vào mặt

Lũ sát nhân cướp nước hại nòi

                                                             (Tố Hữu)

 + Cùng với sự nghiệp dựng nước đầy gian lao của vua Hùng:

Gót ngựa của Thánh Gióng đi qua còn trăm ao đầm để lại

Chín mươi chín con voi góp mình dựng đất Tổ Hùng Vương

+ Cho đến “những con rồng nằm im” cũng góp phần làm nên “dòng sông xanh thẳm”, “con cóc, con gà quê hương cũng góp cho Hạ Long thành thắng cảnh” và cả những địa danh thật nôm na, bình dị “những ông Đốc, ông Trang, bà Đen, bà Điểm”. Nguyễn Khoa Điềm đã đặt cái nhìn trân trọng của mình vào nhân dân không tên không tuổi “những người dân nào” không ai biết cũng làm nên tên núi, tên sông và tất cả những cái bình thường trong cuộc sống hàng ngày của nhân dân cũng hoá thân thành dáng hình xứ sở.

àTính khái quát của hình tượng thơ cứ được nâng dần lên. Đó là một hình dáng của tư thế truyền thống Việt Nam, truyền thống văn hiến của dân tộc có bốn nghìn năm lịch sử. Và ở đâu trên khắp ruộng đồng, gò bãi, chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha. Biết bao nhiêu thế hệ con người Việt Nam biết sống, biết yêu thương và bỏng cháy khát vọng đã tạc vào hình sông thế núi những nét đẹp tâm hồn. Những danh lam thắng cảnh đã trở thành chứng tích tâm hồn của nhân dân bao đời

Hình tượng thơ càng được nâng dần lên và chốt vào một câu đầy trí tuệ:

Ôi! Đất nước sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy

Những cuộc đời đã hoá núi sống ta…

 

*NHÂN DÂN LÀ NGƯỜI LÀM NÊN LỊCH SỬ DÂN TỘC:

  Đoạn thơ mở đầu bằng hình thức đối thoại, thực chất đây là dạng phân thân của chủ thể trữ tình :

Em ơi em

Hãy nhìn rất xa

Vào bốn nghìn năm Đất Nước

– Lời lẽ nhắn nhủ nhẹ nhàng dẫn dắt người đọc vào bốn nghìn năm lịch sử, bốn nghìn năm văn hiến dựng nước và giữ nước của ông cha ta. Nhà thơ không tái hiện lịch sử của dân tộc bằng việc điểm lại triều đại (Đinh, Lí, Trần, Lê) như trong Bình Ngô Đại cáo hay các anh hùng lưu danh sử sách mà nối kết quá khứ và hiện tại bằng những ngôn từ người người lớp lớp,  bốn nghìn lớp người,  biết bao người con gái con trai . Qua đó, cảm nhận lịch sử bằng sự nối tiếp các thế hệ nhân dân. Chính nhân dân đã tạo ra truyền thống lịch sử quý báu của dân tộc 

+ Cụm từ  người người lớp lớp biểu trưng cho sức mạnh của nhân dân, sự hóa thân của nhân dân. Trong đó,  nhà thơ đặc biệt chú ý đến hình ảnh Con gái-con trai bằng tuổi chúng ta . Đó là tuổi trẻ, là thế hệ Gánh vác phần người đi trước để lại- Dặn dò con cháu chuyện mai sau, là những con người cần cù trong lao động, anh dũng trong chiến đấu.

+ Nhà thơ ca ngợi sự hóa thân của nhân dân để làm nên bốn nghìn năm Đất Nước bằng việc nhắc đến những tấm gương anh hùng  cả anh và em đều nhớ . Nhưng nhà thơ quan tâm nhiều hơn đến  Biết bao người con gái con trai/ Trong bốn nghìn lớp người giống ta lứa tuổi/ Họ đã sống và chết / Giản dị và bình tâm .Đó là sự hi sinh thầm lặng của biết bao con người bình dị vô danh.

+  Những con người vô danh và bình dị ấy dành cả cuộc đời để chiến đấu cho độc lập tự do : có ngoại xâm thì chống ngoại xâm, có nội thù thì vùng lên đánh bại

+ Hi sinh lớn lao là vậy, nhưng những từ ngữ đối lập  Sống – chết  ,  Giản dị – Bình tâm  đặt trong hai câu thơ ngắn gọn, nhẹ tênh, hoàn toàn khác so với nhưng dòng thơ dài gợi nhớ công lao của họ đã khẳng định sự hiến dâng ấy hoàn toàn vì lí tưởng chung của cả cộng đồng. Đó là một sự hi sinh nhẹ nhàng thanh thản và giản đơn vô ngần.

àNguyễn Khoa Điềm đã tổng kết lịch sử bằng vai trò của vô càn những con người bình dị, vô danh. Bằng cách đó nhà thơ đã trả lại cho Đất Nước người chủ nhân chân chính. Đây là cảm quan lịch sử mới về vai trò của Nhân dân, bắt nguồn từ hệ tư tưởng mới quan niệm Nhân dân là người sáng tạo ra lịch sử:

 Không ai nhớ mặt đặt tên

Nhưng họ đã làm ra Đất Nước

NHÂN DÂN LÀ NGƯỜI LÀM NÊN CHIỀU SÂU VĂN HÓA DÂN TỘC:

– Nhân dân còn  giữ gìn và truyền lại cho các thế hệ sau mọi giá trị văn hóa, văn minh tinh thần và vật chất của đất nước, của dân tộc: hạt lúa, ngọn lửa, tiếng nói, ngôn ngữ dân tộc, cả tên xã tên làng… Như vậy, hình tượng nhân dân ở đoạn thơ này được xây dựng theo lối khái quát hóa, tập hợp hóa. Để biểu đạt ý thơ này, tác giả sử dụng đại từ nhân xưng “Họ” để chỉ chung cho nhiều người, chỉ tập thể, cả dân tộc. Đại từ ‘Họ’ ở đây có thêm sắc thái biểu cảm mới. Đó là sự hiện diện của nhân dân qua tất cả các thời kì lịch sử, thế hệ này nối tiếp thể hệ kia, cầm trong tay ngọn đuốc sức sốngViệt Nam và khi hết vai trò,  họ truyền lại cho thế hệ kế tiếp:

+ Truyền hạt lúa : truyền lại thành tựu của nền văn minh lúa nước, gieo mần sức sống cho con cháu mai sau.

+ Chuyền lửa : chuyền ánh sáng, hơi ấm và sức sống. Khởi nguồn của sức sông con người chính là lửa ấm. Lửa giúp con người thắp sáng, nấu chín thức ăn và đặc biệt là xua tan không gian lạnh lẽo, giúp con người xích lại gần nhau, thêm yêu thương và chan hòa với nhau hơn.

+·Bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc chính là ngôn ngữ của dân tộc đó. Chính vì thế Cha anh đi trước truyền giọng điệu, tiếng nói cho con cháu mai sau.

·+ Họ sáng tạo ra những địa danh, tên xã, tên làng đã đi vào lịch sử. Họ dắp đập, ke bờ chính là xây dựng nền tảng vật chất và tinh thần để đời sau kế thừa thành quả.

·+ Khi  giặc đến họ vùng lên đấu tranh anh dũng , có nội thù thì đánh bại và bảo vệ cuộc sống bình yên. Đó là lòng yêu nước, tình thần quả cảm mà thế hệ đi trước đã truyền lại cho chúng ta.

àSự tiến hóa của lịch sử giống như 1 cuộc lao động lớn, một cuộc chạy tiếp sức không mệt mỏi của nhân dân để lưu truyền mãi ngọn lửa văn hóa của các thế hệ. Nhân dân đem cả cuộc đời mình ra để xây dựng, phát triển và lưu truyền mọi giá trị vật chất, tinh thần cho con cháu nghìn đời. Cứ thế lịch sử dân tộc được nối dài, sức sống đất nước được duy trì và phát triển bới bao thế hệ, những con người vô danh, bình dị , không ai nhớ mặt đặt tên nhưng họ làm nên đất nước muôn đời… Âm hưởng của đoạn thơ trang trọng hào hùng như những lời âm vang của lịch sử để ngợi ca truyền thống dân tộc. Đặt trong bối cảnh đất nước có giặc ngoại xâm thì tự hào về truyền thống dân tộc là biểu hiện sâu sắc tình yêu nước.

Từ những mạch suy tưởng trên dẫn đến tư tưởng trung tâm của đoạn trích và cũng là của cả bản trường ca  “Đất nước này là Đất nước của Nhân dân”. Và khi nói đến Đất nước của Nhân dân, một cách tự nhiên, tác giả trở về với cội nguồn phong phú đẹp đẽ của văn hóa, văn học dân gian mà tiêu biểu là ca dao. Vẻ đẹp tinh thần của nhân dân, hơn đâu hết, có thể tìm thấy trong ca dao, dân ca, truyện cổ tích: Đất nước của ca dao thần thoại”. Trong cả kho tàng ca dao, dân ca, tác giả chỉ chọn lọc ba câu để nói về ba phương diện quan trọng nhất của truyền thống dân tộc:

·         Say đắm trong tình yêu (Yêu em từ thuở trong nôi/Em nằm em khóc, anh ngồi anh ru)

·         Quý trọng tình nghĩa (Cầm vàng mà lội qua sông/Vàng rơi không tiếc tiếc công cầm vàng)

·         Nhưng cũng thật quyết liệt trong căm thù và chiến đấu (trồng tre đợi ngày thành gậy, đi trả thù mà không sợ dài lâu…)

 

 Nguyễn Khoa Điềm đã không lặp lại một thói quan là nêu lên sự trù phú đẹp tươi của Đất Nước với

Những cánh đồng thơm mát

Những ngả đường bát ngát

Những dòng sông đỏ nặng phù sa

(Đất nước – Nguyễn Đình Thi)

Hay với những

Rừng cọ đồi chè, đồng xanh ngào ngạt

Nắng chói sông Lô, hò ô tiếng hát

Chuyến phà dào dạt, bến nước Bình Ca

(Ta đi tới – Tố Hữu)

Mở đầu bài thơ Quê hương Việt Nam, nhà thơ Nguyễn Đình Thi viết:

Việt Nam đất nước ta ơi

Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn

Cánh cò bay lả dập dờn

Mây mờ che đỉnh Trường Sơn sớm chiều

Nhà thơ chú ý đến những miền đất, những địa danh mà tên gọi đều rất nôm na, dân dã. Những địa danh, những hình sông thế núi mang hình người, linh hồn dân tộc. Chúng là sự tượng hình kết tinh đời sống văn hoá tinh thần của nhân dân mang đậm chủ nghĩa nhân văn, nhân đạo Việt Nam.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Chính những nét đẹp tâm hồn đã góp phần hình thành nên vẻ đẹp tài hoa, khí phách, sự giản dị mà hiên ngang, bất khuất của cả núi sông, dân tộc :

 Sống vững chãi bốn nghìn năm lịch sử

Lưng đeo gươm tay mềm mại bút hoa

Trong và thực sáng hai bờ tư tưởng

Sống hiên ngang mà nhân ái chan hòa 

(Huy Cận)

 

Chế Lan Viên nhìn đất nước qua những trang sử hào hùng:

“Hỡi sông Hồng tiếng hát bốn nghìn năm

Tổ Quốc bao giờ đẹp thế này chăng?

– Chưa đâu! Và ngay cả trong những ngày đẹp nhất

Khi Nguyễn Trãi làm thơ và đánh giặc

Nguyễn Du viết Kiều, đất nước hoá thành văn

Khi Nguyễn Huệ cỡi voi vào cửa Bắc

Hưng Đạo diệt quân Nguyên trong sóng Bạch Đằng”.

(“Tổ Quốc bao giờ đẹp thế này chăng?”)

Nguyễn Khoa Điềm nhấn mạnh vai trò của 4000 lớp người vô danh và bình dị:

Đó có thể là:

Anh là chiến sỹ Giải phóng quân. 

Tên Anh đã thành tên đất nước 

Ôi anh Giải phóng quân! 

Từ dáng đứng của Anh giữa đường băng Tân Sơn Nhất

Tổ quốc bay lên bát ngát mùa xuân

(Dáng đứng Việt Nam)

Trái tim em trái tim vĩ đại 

Còn một giọt máu tươi còn đập mãi 

Không phải cho em. Cho lẽ phải trên đời
Cho quê hương em. Cho Tổ quốc, loài người!

(Người con gái Việt Nam)

 

 

 

 

 

 

 

 

Đứng trước thác lũ của dòng chảy thời đại , trước ngưỡng định mệnh của dân tộc những năm 1974-1975, ta thấy chưa bao giờ như bây giờ, vai trò của nhân dân lại to lớn đến thế, chưa bao giờ như bây giờ những sự hi sinh lại lớn lao đến như vậy :  bốn nghìn lớp người  – lớp này ngã xuống lại có những con người khác tiếp nối nhiệm vụ chung của cả dân tộc. Rõ ràng đất nước và nhân dân đã hòa làm một. Đất nước ấy được hình thành nên từ máu xương, từ sự hi sinh thầm lặng của nhân dân, của những con người :

 Chúng tôi đã đi không tiếc đời mình

 (Nhưng tuổi hai mươi làm sao không tiếc)

 Nhưng ai cũng tiếc tuổi hai mươi thì còn chi  Tổ quốc

Cỏ sắc mà ấm quá, phải không em..?”

 

 (Trường ca Những người đi tới biển – Thanh Thảo)

 

 

Dậy mà đi! Dậy mà đi!

 
Đừng tiếc nữa, can chi mà tiếc mãi ?
Ai chiến thắng mà không hề chiến bại
Ai nên khôn mà chẳng dại đôi  lần ?
Huống đường đi còn lắm bước gian truân
Đây chưa phải trận sau cùng chiến đấu! 

(Dậy mà đi – Tố Hữu)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Đất nước là đề tài đã được nhiều nhà văn, nhà thơ trước đây đề cập tới. Tư tưởng Đất Nước của nhân dân cũng có thể thấp thoáng trong quan niệm của cha ông xưa: Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân hay Nhân dân bốn cõi một nhà, dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới (Nguyễn Trãi); Dân là dân nước; nước là nước dân hay Một nước có anh hùng hay không cũng là do nhân dân trong nước ấy có anh hùng hay không mà thôi (Phan Bội Châu). Nhiều nhà thơ trước và cùng thời với Nguyễn Khoa Điềm cũng nói đến tư tưởng này, chẳng hạn như Nguyễn Đình Thi (Ôm đất nước những người áo vải – Đã đứng lên thành những anh hùng); như Thanh Thảo (Dân tộc tôi khi đứng dậy làm người – là đứng theo dáng mẹ – đòn gánh tre chín rạn hai vai); như Trần Đăng Khoa (Mái gianh ơi hỡi mái gianh – Ngấm bao mưa nắng mà thành quê hương) … Tuy nhiên chỉ đến Nguyễn Khoa Điềm, Đất Nước và tư tưởng Đất nước của Nhân dân mới được nhìn nhận trên nhiều bình diện: địa lí, lịch sử, văn hóa… Ở mỗi bình diện, dường như Nguyễn Khoa Điềm đều có những phát hiện mới, cách nói mới về Đất Nước so với những cách nhìn quen thuộc bấy lâu.

 

Đoạn trích nhất quán ở giọng điệu tâm tình, tha thiết, lắng sâu như cuộc trò chuyện của đôi lứa yêu nhau giữa anh và em. Thế rồi từ đối thoại xen lẫn với độc thoại, khiến người đọc không sao nhận ra được lúc nào tác giả nghiêm trang định nghĩa Đất Nước, lúc nào tác giả mê đắm tâm tình. Cách làm này đã khiến cho lời định nghĩa về Đất Nước thoát khỏi cái khung khái niệm khô khan trở thành 1 cuộc trò truyện thân mật mà tự do bay bổng, chất chính luận đan cài với chất trữ tình nhất là khi các chất liệu được rút ra từ chính kho tàng văn hóa, văn học dân gian tạo nên hình tượng nghệ thuật sinh động, có khả năng đưa đến cho người đọc những cảm xúc thẩm mĩ phong phú.

 

– Chất chính luận thể hiện ở ý đồ tư tưởng của tác giả:

+ Thức tỉnh tinh thần dân tộc của thế hệ trẻ miền Nam, để dứt khoát trong sự lựa chọn đứng về phía nhân dân và cách mạng

+ Tính chính luận chi phối đến kết cấu: đoạn trích được xây dựng theo cách lập luận như để trả lời cho câu hỏi: Đất Nước có từ bao giờ? Đất Nước là gì? Ai đã làm nên Đất Nước

– Chất trữ tình thể hiện ở

+ Những câu thơ bộc lộ trực tiếp tình cảm, cảm xúc của chủ thể mà còn thấm vào trong cái nhìn, trong thái độ trân trọng, yêu quý với mỗi hình ảnh, chi tiết về Đất Nước gắn liền với nhân dân được miêu tả gợi ra trong đoạn trích

+ Suy tưởng cũng là một ưu thế của đoạn trích. Suy tưởng à Suy nghĩ, phát hiện không chỉ nói lên bằng những mệnh đề khô khan mà qua hình ảnh thơ và cảm xúc của chủ thể trữ tình.

 

HỌC KHÔN NGOAN MÀ KHÔNG GIAN NAN